1. Rau dền (dền gai)
Dền gai có tên khoa học là Amaranthus spinosus L. họ Amaranthaceae.
Rễ chứa spinasterol. Toàn cây chứa sterol. Phần trên mặt đất chứa rutin.
Lá và ngọn non dùng luộc ăn như các loại rau dền, thường dùng trị phù thũng, bệnh về thận…
2. Rau cần tây
Tên khoa học: Apium graveolens L. Họ thực vật: Apiaceae
Toàn cây có chứa tinh dầu. Rau cần tây chủ yếu được dùng làm thực phẩm nấu canh. Ngoài ra, rau cũng được dùng làm thuốc lợi tiểu, hỗ trợ điều trị sỏi niệu đạo, sỏi thận…
3. : Râu ngô
Râu ngô có tên khoa học là Stigmata Maydis
Trong râu ngô có chất sitosterol, stigmasterol, chất dầu, tinh dầu, saponin, glucozit đắng, vitamin C, vitamin K, chất nhầy và một số chất khác và giàu Kali. Râu có tính mát, giải nhiệt, giúp lợi tiểu được dùng làm thuốc thông tiểu tiện, đau thận, sỏi thận…
Chính vì thế, râu ngô cũng là một trong những cây thuốc nam trị sỏi thận phổ biến. Bạn có thể kết hợp với rễ tranh, mã đề với râu ngô để nấu nước uống giúp sỏi được thải ra ngoài theo nước tiểu.
4. Cây dứa dại
Tên khoa học là Pandanus tectorius Sol
Cây dứa dại là một trong những cây thuốc nam trị sỏi thận hiệu quả. Dứa dại có tính hàn, vị thanh ngọt, vào các kinh tâm, phế, tiểu tràng, bàng quang có tác dụng thanh nhiệt, lợi thủy, trừ thấp nhiệt. Theo y học cổ truyền vị thuốc này dùng chữa phù thũng, đái rắt, đái buốt, đái ra máu, sỏi tiết niệu…
Dấu hiệu thường gặp của bệnh sỏi thận
Triệu chứng của bệnh thường liên quan đến nguyên nhân và biến chứng của viên sỏi gây ra đối với hệ tiết niệu, bao gồm:
1. Cơn đau quặn thận
Đây là triệu chứng đặc trưng và dễ nhận biết nhất khi bị bệnh. Bệnh nhân sẽ cảm thấy đau nhiều ở vùng thận, quanh vùng hố thắt lưng một bên, lan ra phía trước và xuống dưới, thường xảy ra đột ngột sau một hoạt động gắng sức. Các cơn đau này thường được mô tả là “cơn đau bão thận” hoặc “cơn đau quặn thận”.
Cơn đau có thể rất nghiêm trọng, làm người bệnh phải tìm mọi cách để giảm đau mà không thành công. Cơn đau có thể lan từ hố thắt lưng dưới xương sườn 12, lan về phía trước đến rốn và hố chậu, thậm chí khiến người bệnh bất tỉnh, mất sức vì quá đau.
2. Cơn đau do sỏi niệu quản
Đây là cơn đau từ hố thắt lưng lan dọc xuống dưới theo niệu quản, đến hố chậu, bộ phận sinh dục và mặt trong của đùi. Triệu chứng đi kèm bao gồm buồn nôn, nôn mửa, chướng bụng do liệt ruột, sốt và rét run nếu có nhiễm trùng tiết niệu kết hợp.
3. Tiểu ra máu
Các sỏi có bề mặt nhám hoặc gai khi cọ xát vào đường tiểu sẽ gây trầy xước khiến bệnh nhân đi tiểu ra máu. Thông thường, sỏi thận không gây hiện tượng này, nhưng với bệnh nhân thường xuyên lao động, vận động mạnh thì khả năng tiểu ra máu rất cao.
4. Bế tắc đường tiểu
Sỏi gây ra tình trạng tắc nghẽn đường tiểu, dẫn đến bí tiểu hoặc thận ứ nước. Người bệnh sẽ thấy buồn tiểu nhưng khó đi, đi tiểu thấy đau hay tiểu không hết nước,...
Đây là một bệnh lý phổ biến của hệ thống tiết niệu, đặc biệt thường gặp ở nam giới trung niên trong độ tuổi từ 30 đến 55. Tại Việt Nam, với khí hậu nhiệt đới nóng ẩm và mức độ mất nước cao, bệnh này chiếm đến 10-14%. Sỏi thận xảy ra khi các tinh thể khoáng chất, các chất vô cơ trong nước tiểu kết tinh và hình thành các viên sỏi rắn trong thận.
Các viên sỏi có thể gây ra những triệu chứng khó chịu, đau đớn, thậm chí sốt kèm rét run do nhiễm trùng thứ phát cho người bệnh. Chúng thường bắt đầu hình thành từ thận, sau đó di chuyển dọc theo hệ thống tiết niệu và cuối cùng được bài tiết ra ngoài.
Dựa theo vị trí sỏi thận được chia làm 4 loại, gồm:
Sỏi thận: Bao gồm sỏi đài thận và bể thận.
Sỏi niệu quản: Hình thành khi sỏi di chuyển từ bể thận xuống niệu quản và gây bế tắc.
Sỏi bàng quang: Thường là kết quả của sỏi từ thận hoặc niệu quản di chuyển xuống bàng quang, hoặc do bế tắc vùng cổ bàng quang.
Sỏi niệu đạo: Khi sỏi di chuyển từ bàng quang xuống niệu đạo và mắc kẹt tại đây.
Sỏi trong thận sẽ được phân loại theo thành phần hóa học kết tinh ra chúng liên quan đến nguyên nhân gây bệnh, cụ thể:
Sỏi Calcium: Là loại phổ biến nhất, chiếm từ 80-90% tổng số, bao gồm sỏi Calci Oxalat và Calci Phosphat. Loại Calci Oxalat thường gặp ở các vùng nhiệt đới như Việt Nam, có tính chất cứng, cản quang và thường có màu vàng hoặc nâu.
Sỏi Phosphat: Thường gặp là loại Magnesium Ammonium Phosphate, hay còn gọi là sỏi nhiễm trùng, thường do nhiễm trùng niệu kéo dài gây ra, đặc biệt là do vi khuẩn Proteus. Loại này có màu vàng, hơi bở và có thể hình thành các sỏi san hô lớn, lấp kín đài bể thận.
Sỏi Acid Uric: Hình thành do sự gia tăng chuyển hóa chất purine trong cơ thể. Các nguyên nhân có thể bao gồm chế độ ăn nhiều thực phẩm chứa purine, bệnh gout, sự phân hủy khối u khi dùng hóa trị liệu,...
Sỏi Cystin: Hình thành do rối loạn tái hấp thu chất cystine ở ống thận. Loại này ít gặp hơn ở Việt Nam, có bề mặt trơn láng và không cản quang.
Dấu hiệu khi bị sỏi thận
Sỏi thận là gì?